Báo Công an TP Đà Nẵng - Tuổi hai mươi

By NGUYỄN ĐỨC NAM






    
     Hôm nay 24-12-2007 sau một thời gian thử nghiệm nội bộ được sự cho phép của Đảng ủy Giám đốc CATP   Báo Công an TP Đà Nẵng chính thức ra mắt bạn đọc Báo điện tử Công an TP Đà Nẵng.

      Báo điện tử Công an TP Đà Nẵng với tên miền: www.cadn.com.vn được Cục Báo chí Bộ Thông tin và Truyền thông cho phép xuất bản theo Giấy phép xuất  bản số  496/GP-BC ngày 9-11-2007 có giao diện đẹp hiện đại dễ truy cập; đăng nhiều chuyên mục thời sự và hấp dẫn cập nhật nhanh những tin tức tất cả các mặt chính trị kinh tế đời sống xã hội... của TP Đà Nẵng khu vực miền Trung- Tây Nguyên và của cả nước. Mời các đồng chí các bạn đón đọc cổ  vũ và viết tin bài cho Báo điện tử Công an TP Đà Nẵng.

          Sáng mai (25-12) Báo Công an TP Đà Nẵng tổ chức trọng thể Lễ kỷ niệm 20 năm Ngày ra số báo công khai đầu tiên và đón nhận Huân chương Lao động hạng nhất.

          20 năm Báo Công an TP Đà Nẵng (trước là Báo Công an QN-ĐN) ra công khai thì cũng hơn 18 năm mình gắn bó với tờ báo này. Thật khó có thể nói hết những cảm xúc nhân sự kiện này. Chỉ biết rằng chừng ấy năm chất chứa bao kỷ niệm. Ngày ấy mình vừa ra trường cùng các anh chị đi trước và nhiều sinh viên Trường Đại học Tổng hợp Huế góp mặt trên tờ báo này. 20 năm qua vì nhiều lý do kẻ ở người đi song ngày mai đây tất cả sẽ trở về mái nhà chung. Nơi ấy   chúng ta đã từng buồn vui thao thức từng sống và đi qua cái thời tuổi trẻ đầy nổi sôi và nhiệt huyết nhưng cũng không ít vụng dại của tuổi mới vào đời vào nghề. Đó cũng là quãng thời gian mà bước chân của mình cũng như đồng đội đã in hằn trên bao nẻo đường của vùng đất miền Trung đầy khó khăn gian khổ. Dù không bom rơi đạn nổ như thời chiến tranh nhưng thiên tai cùng bao khó khăn trong cuộc sống của dải đất miền Trung này đã từng thấm vào ngòi bút đầy trăn trở của một thời. Và mãi mãi...

     Có thể trong buổi đầu tìm việc chúng ta không có quyền lựa chọn hay nói đúng hơn công việc đã chọn người. Nhưng không sao cả bởi từ ngôi nhà này chúng ta từng sống lớn lên và một phần nào đó đã hình thành nên nhân cách mỗi người.

          Cầu chúc cho mọi người an lành nhiều niềm vui trong cuộc sống.


          Cầu chúc cho mọi điều tốt đẹp!



More...

Những nhà báo trẻ lớn lên từ Đại học Huế

By NGUYỄN ĐỨC NAM


 


         Đại học Huế có một điều lạ đó là tuy không có khoa đào tạo báo chí nhưng số lượng các nhà báo hiện đang công tác trong các cơ quan thông tấn cả nước cũng như khu vực miền Trung - những người vốn một thời khoác áo sinh viên Đại học Huế đặc biệt đông đảo. Con số này ước tính lên tới vài trăm người nếu chỉ kể từ sau ngày giải phóng. Họ phần lớn là sinh viên các khoa xã hội. Thật khó hình dung được “nền” báo chí miền Trung sẽ như thế nào nếu thiếu vắng những gương mặt ấy. Bài viết này xin làm một hành trình nho nhỏ qua dải đất miền Trung gặp lại những nhà báo từng có một thời gian lớn lên từ Huế.

          Đến Bình Thuận ai nấy đều nghe tiếng của Lương Duy Cường (Văn K6-TH) - Thư ký toà soạn báo Bình Thuận chủ nhật - một cây bút chắc nịch. Ở Nha Trang “nổi” nhất có lẽ là Trưởng phòng phóng viên báo Khánh Hoà vốn học Văn K1 Tổng hợp- chị Ngọc Anh. Ngược lên Lâm Đồng sẽ gặp cơ man những nhà báo trẻ những Hoàng Hân (Văn K1-TH) Hoàng Đại Vinh bút danh Hoàng Kiến Giang (Văn K5-TH) Lê Văn Minh Tự (Văn K11-TH) ... Ở báo Lâm Đồng. 

          Đến Phú Yên hỏi nhà báo nào “ấn tượng” nhất thì mười người như chục đều nhất loạt rằng đó là Phan Thanh Bình Văn K1 Tổng hợp (bút danh Phan Thanh) hiện là Trưởng ban bạn đọc báo Phú Yên. Đến “sư huynh” Phạm Phú Phong cũng phải lắc đầu “hẳn quyền cưới lắm”. “Quyền cước” cũng chỉ để vui vẻ với anh em. Ấy là cái đận mấy chục sinh viên Văn K17 vào thực tập ở Phú yên được anh hai Phan Thanh “bảo trợ” khiến các em thích mê nhất loạt giơ tay bầu “Việt Nam chỉ có Tuy Hoà là vui !”. Phú Yên còn có một “nữ kiệt”   đó là Phạm Hồng Chung tốt nhiệp Văn Tổng hợp K3 (bút danh Bảo Chân) - Phóng viên báo Lao động Nhân vật này cũng đầy ấn tượng bôn ba từ phóng viên đài huyện rồi dạy học sau làm báo tỉnh lên tới chức Thư ký toà soạn thì do “cơ trời” sắp đặt nên chuyển sang báo Lao Động thành cây bút ký phóng sự đầy cá tính. “Phu quân” của chị là Bùi Minh Hương vốn học cùng lớp ở Huế cũng mới chia tay nghề báo sang nghề luật được mấy tháng nay. Ngoài ra còn phải kể tới những nhà báo Kỳ Linh (Văn K2-Sư phạm) Hoàng Thanh Hiền (Văn K1-Tổng hợp)...

           Ra Bình Định sẽ gặp Thư ký toà soạn báo tỉnh kiêm đặc phái viên báo Lao Động  Trần Quang Khanh (Văn K4 - Tổng hợp) với những mẩu tin “chết người”. Cặp vợ chồng Nguyễn Thanh Mừng - Trần Thị Huyền Trang cũng là dân Văn Tổng hợp Huế làm Tạp chí Văn nghệ Bình Định dạo này xuất hiện thường xuyên trên báo chí với đủ loại thơ truyện ký nghiên cứu. Lại ngược lên Tây Ngưyên với 3 tỉnh Đăk Lăk Gia Lai Lon Tum tính ra số nhà báo lớn lên từ Đại học Huế dễ tới vài chục! Từ những “anh Hai" như Bùi Công Ngọc (văn K1-TH) Trưởng ban biên tập Đài PTTH ĐăkLăk Văn Công Hùng (Văn K1-TH - Biên tập tạp chí “Văn nghệ Gia Lai” Hoàng Xuân Công (Văn K6-TH) Phó giám đốc  Đài PTTH Kon Tum Lê Minh Sanh (Văn K8-TH) - Trưởng ban thời sự Đài PTTH Ga Lai đến những Lê Xuân Lãm (Văn K9-TH)- Đại diện Đài tiếng nói Việt Nam tại Tây Nguyên Đinh Hữu Trưởng Ngọc Quyền Đình Đối Trần Quang Anh ... Họ đã chọn Tây Nguyên làm đất sống.

          Tới Quảng Ngãi nghe dân tình đồn đại rằng ở đây bấy lâu có một “đặc sản” đó là những ... bài viết của “ông” nhà báo Trần Đăng ! Trần Đăng là cái tên trên “Lao động” còn ở Đài PTTH tỉnh nhà anh có tên cúng cơm Phạm Đương. Chả là anh chàng vốn xuất thân từ Văn K4- Tổng hợp này luôn có những bài viết thuộc loại “đặc sản” cuối năm nay anh sẽ chuyển hẳn sang “Lao động” !

          Sự kiện tách tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng đã góp phần “tạo đất sống” cho một loạt những nhà báo trẻ xuất thân từ "lò” ĐH Huế Phan Tấn Tu (Văn - K4-TH) một thời nằm dài ở nhà viết ... truyện ngắn đến cơm bụi cũng phải ký sổ giờ yên vị ở tỉnh mới Quảng Nam với chức danh Phó Tổng biên tập báo tỉnh. Hội tụ tại đây còn có  hàng chục cây bút trẻ măng và “ác chiến” như Lê Văn Nhi Lê Trung Việt Phan Chín Trương Thanh Nam Thu Thủy Huỳnh Phước Lê... 

          Mở báo Đà Nẵng thường xuyên được đọc những phóng sự ghi chép đầy nữ tính của Phan Hoàng Phương (Văn K8-SP). Một cây bút nữ khác là Võ Kim Ngân (Văn K3-TH) sau nhiều năm “chính chiến” ở Ban Văn nghệ Đài PTTH Đà Nẵng giờ cũng “nhảy” sang làm đại diện cho tờ “Người lao động Thành phố Hồ Chí Minh”. Hai nữ phóng viên này cũng là những cây thơ có tiếng ở Đà Nẵng. Đài truyền hình Đà Nẵng và báo Công an Đà Nẵng có thể nói là hai “cơ quan đại diện” của Khoa văn Đại học Huế. “Cầm trịch” báo Công an Đà Nẵng là Tổng biên tập Lê Minh Hùng (Văn K1-TH) Thư ký toà soạn Nguyễn Chính (Văn K8 - TH) và các “anh hào” Nguyễn Đức Nam Nguyễn Văn Long Thế Sinh Hoa Ngõ Hạnh Thu Hương ...  Ở đài truyền hình Đà Nẵng không thể không nhắc tới 2 vị Phó giám đốc là Đặng Xuân Thu (Văn - K1-TH) và Huỳnh Hùng (Văn K2-TH) rồi Nguyễn Thị Thu Hiền Thu Bình Phạm Xuân Hùng (Từ Dạ Thảo) Ngọc Ánh Hoàng Thái Thiều Hạnh ... 

          Một nét đặc biệt nữa đó là Đà Nẵng trở thành “đất sống” của những nhà báo đại diện. Trương Duy Nhất (Văn - K7-TH) đại diện tờ “Đại Đoàn Kết” tại miền Trung quả xứng với cái tên vì những trận "đánh Đông dẹp Bắc". Trần Ngọc (Văn - K7-TH) đại diện tờ “Tuổi trẻ thành phố Hồ Chí Minh” Khánh Hồng (Văn Sư phạm) đại diện báo “Tiền Phong” Hải Châu (Văn Sư phạm) đầu quân cho “Thanh Niên” Huỳnh Nam Phong (Văn - K10-TH) phụ trách tờ “Thể thao Việt Nam” tại miền Trung... 

           Không thể không kể thêm hai nhà báo đại diện khác đó là Lâm Chí Công (Văn Sư phạm) - người vốn luôn tiên phong trước mọi vụ việc và bản thân cũng gặp nhiều “rắc rối” với nhiều bài viết trên “Lao động” và người nữa là Lê Đức Dục (Văn - K10-TH) đại diện báo “Tuổi trẻ Thành phố Hồ Chí Minh” tại Quảng Trị rất chịu khó khó tung hoành  ngòi bút khắp các trang báo.

          Thật khó kể hết danh tánh những nhà báo ở Huế - những người từng một thời có mặt ở giảng đường nơi đây. Có một người vừa đảm nhiệm công tác đào tạo tại Khoa Báo chí  non trẻ của nhà trường vừa hoạt động đầy năng nổ với tư cách một nhà báo của “Phụ nữ Việt Nam” đó là Phạm Phú Phong (Văn - K1-TH). Chính phong cách làm việc của anh cùng những chuyển hướng dẫn sinh viên các khoá thực tập báo chí tại các khắp các địa bàn miền Trung đã góp nhiều trong việc bổ sung hành trang cho các nhà báo tương lai. Ở Huế còn có một nhà báo nghiệp dư nhưng viết nhiều và khá sắc sảo trên báo “Tiền Phong” và nhiều báo chí khác là Trần Đức Anh Sơn (Sử - K9-TH). Anh giờ chú tâm vào nghiên cứu đang làm luận án tiến sĩ ở Nhật. Một số cây bút đáng chú ý nữa đó là những Hồ Đăng Thanh Ngọc (Hạ Nguyên) Hồng Hạnh Diên Thống Hoàng Thành Hương Giang ... (Báo TT-H) Nguyên Du Xuân Hoàng (Hoàng Bình Thi)... (Đài PTTH) Lê Thanh Hà (đại diện “Hoa Học Trò” và “Thiếu Niên Tiền Phong”)...

          Có thể nói Quảng Trị là mảnh đất dày đặc những nhà báo trẻ “sừng sỏ” những Minh Tứ (Văn - K7-TH) - Phó Tổng biên tập Báo Quảng Trị Hoàng Đức Truật (Hoàng Đức) Nguyễn Hoàn Đinh Như Hoan (Báo Quảng Trị)... Hữu Thành (đại diện báo “Tiền Phong”). Một cây bút thông minh đầy cá tính là Phạm Xuân Vinh (Văn - K6-TH) đã vội ra đi giữa lúc tuổi đời còn rất trẻ khi đang là thư ký toà soạn “Tạp chí Cửa Việt” để lại nỗi tiếc thương khôn nguôi trong lòng bạn hữu. 


 
          Quảng Bình cũng là nơi có nhiều nhà báo sắc sảo. Nhà báo Tạ Đình Nam - Tổng biên tập báo Quảng Bình vốn là giảng viên đại học Huế. Học trò cùng là đồng nghiệp của anh nhiều người cũng để lại những dấu ấn khó quên như Nguyễn Thế Thịnh Hữu Thái Tùng Lâm ...

          40 năm - Một chặng đường dài với nhiều buồn vui thăng trầm. Từ cánh cổng đại học Huế đã có hàng ngàn hàng vạn sinh viên ưu tú toả đi mọi miền đất nước trong đó có những nhà báo hôm nay. Họ - hàng ngày giáp mặt với cuộc sống yêu thương cuộc sống và bằng trí thuệ trái tim nhiệt thành đang góp phần cải tạo cuộc sống ngày một tốt đẹp hơn.


          Hiểu biết có hạn chắc chắn sẽ còn rất nhiều những gương mặt tiêu biểu khác chưa được nhắc đến trong bài viết nhỏ này mong được lượng thứ.

(Bài của Trần Tuấn cựu SV Văn K10 hiện là PV Báo Tiền Phong viết năm 1997)
 


Một số hình ảnh lớp Văn K9 trong dịp Kỷ niệm 30 năm Ngày Thành lập ĐHTH Huế(2006)



Thầy Hồ Thế Hà (mặc áo đen ngồi giữa) - Chủ nhiệm lớp Văn K9 nay là Chủ nhiệm Khoa Ngữ Văn ĐHKH Huế  Đức Nam  ngồi cạnh thầy cùng  các bạn cựu SV Văn K9



Văn K9. Từ trái qua: Minh Phương (VTV Huế); Thu Hường (Sở Tư pháp Đà Nẵng); Tài Ba (Sở Tư pháp Quảng Trị); Hồng Phương (UBND huyện An Nhơn Bình Định); Tâm Thanh (Báo Quảng Trị); Đức Nam (Báo CA Đà Nẵng); Tùng Lâm (Báo Quảng Bình); Tuấn Anh (Đài PTTH Phú Yên); Hữu Thành (Báo Tiền Phong) Thanh Ngọc (Tạp chí Sông Hương); Hương Giang (Báo Thừa Thiên - Huế)



Nguyễn Đức Nam bên "một đàn bướm bướm xinh": ngoài 3 nàng đã giới thiệu ở ảnh trên là Phương Hường Giang  hàng đứng: cạnh Nam là Bích Ngọc (VietNamNet); Ái Vân (CA Quảng Trị) ngồi mặc áo đen là Hải Vân (Sân bay TSN TPHCM) 


More...

Xin bắt đầu từ "chuyện nhỏ"

By NGUYỄN ĐỨC NAM

*. Nguyễn Đức Nam

More...

Quê mình - lũ như năm Thìn (1964)

By NGUYỄN ĐỨC NAM



                 Di dân ở quê mình (Đại Lộc - Quảng Nam)


          Anh Trương Công Thích người cùng quê điện báo khẩn: quê mình hiện mênh mông lũ. Mực nước đã lên cao hơn năm Thìn (1964). Tối hôm qua điện thoại về quê còn bắc được máy nghe ở nhà bảo nước đã lên đến thắt lưng. Nền nhà mình cao cũng khá trong làng vậy mà nước đã đến thắt lưng các nhà còn lại ra sao???

         
Kể từ 23 giờ tối qua (11-12) điện thoại bàn điện thoại di động ở quê đều không liên lạc được không biết tình hình bão lụt trên đó như thế nào đây. Tiếng tút tút ở đầu dây làm lòng mình như lửa đốt. Ở ngoại vi thành phố Đà Nẵng nước cũng đã bao quanh có nơi đã bị cô lập. Không còn đường về cũng không điện thoại biết làm thế nào đây!
Nghe đến lũ năm Thìn mình thấy cơn lạnh chạy dọc sống lưng. Nghe mẹ kể năm ấy nước ngập hết thảy nóc nhà trong làng. Làng thành sông. Mẹ bu bám nóc nhà suốt đêm chờ trực trăng cứu hộ. Bây giờ nhà cửa có khá hơn chút nhưng chống chọi với thuỷ thần đâu phải dễ. Biết bao bất trắc hiểm nguy đang chờ chực gia đình mình và bà con xóm làng.

         
Mẹ ra ở chơi với gia đình mình hơn nửa tháng. Nhớ quê quay quắt lại đòi về. Cách đây mấy hôm nghe có cơn bão hình thành và có khả năng đổ bộ vào các tỉnh phía nam mình can ngăn mãi mẹ vẫn không chịu. Thấy trời ấm lên chút là mẹ đòi về. Mẹ bảo ở phố như ở tù. Thương mẹ lắm nên đành phải để mẹ về. Mẹ thương con nhưng lại muốn ở với quê. Có lúc mình ngỡ mẹ thương quê hơn là thương mình. Vậy là mẹ về...

         
Bây giờ thì mình lo quá. Mẹ mình giờ sao rồi? Anh chị mình giờ sao rồi? Chỉ cách nhau 50 cây số mà tất cả như xa vời vợi. Xa hơn nửa vòng trái đất. Xa tít mù khơi.

         
Mình điện cho anh Nguyễn Văn Ngũ Bí thư huyện Đại Lộc. May quá ở huyện vẫn còn liên lạc được.  Anh cho biết quê mình nhiều nơi đã chia cắt và anh cùng lãnh đạo huyện đang bàn nhiều phương pháp cứu hộ trong ngày. Vì nếu để đêm xuống công tác cứu hộ cứu nạn sẽ rất phức tạp.

         
Còn bây giờ đây ở Hoà Vang ngoại ô TP Đà Nẵng nước đã chia cắt hết các vùng. QL1A đoạn qua TP Đà Nẵng đã ngập ách tắt giao thông. Ven QL1A có nơi nước đã ngập nửa nhà. Dân chuẩn bị sơ tán. Ở trung tâm thành phố tiếng còi hụ liên tục những chiếc xe chở quân cứu hộ cứu nạn đang hối hả về vùng ven. 

         
Cả cơ quan mình xôn xao. P V tác nghiệp các nơi báo về tình hình rất nguy cấp.

         
Cơn mưa vẫn đang nặng hạt. Gió vẫn quất mãi vào lòng.

        
Cầu mong mưa tạnh. Chỉ cầu mong mưa tạnh thôi. Cầu mong nhân được tin nhà!

                                             10 giờ 30 ngày 12-11

More...

"Trái đất mang hình giọt nước mắt" (*)

By NGUYỄN ĐỨC NAM



(Cảm nhận tập thơ “Ẩn dụ mưa” của BÙI XUÂN)

        
*.  ĐỌC “ẨN DỤ MƯA”

         
Quán cà-phê 3G trên đường Ba Đình. Sáng mùa đông rét mướt. Mưa Đà Nẵng năm nay không khác chi mưa Huế. Dai dẳng từ ngày này qua ngày nọ cả nửa tháng trời. Tôi tình cờ gặp nhà thơ Bùi Xuân khi anh đang ngồi hàn huyên cùng hai người bạn. Chuyện trò được một lúc anh chợt bảo: “Mình có cái này tặng Nam…”. Bùi Xuân lúi húi lục lọi chiếc túi xách. Món quà anh tặng tôi thật ý nghĩa: Tập thơ “Ẩn dụ mưa” vừa được xuất bản tháng 6-2007.

         
Tôi với anh Bùi Xuân là đồng hương Đại Lộc Quảng Nam lại cùng học một trường tên gọi trước là Đại học Tổng hợp Huế. Nhưng ngày tôi nhập trường thì anh đã đi làm được vài năm nên với tôi anh từ lâu là “cây đa cây đề” chỉ dám “kính nhi viễn chi”.  Năm 1997 anh Bùi Xuân đã in tập thơ “Thơ đề trên chiếc lá rụng”. Và sau “Ẩn dụ mưa” anh cho biết đang chuẩn bị in Trường ca “Biến tấu biển”. Phải nói thành thật rằng “Ẩn dụ mưa” là một trong số ít tập thơ hiện nay cuốn hút tôi từ đầu đến cuối. Tập thơ này chia 2 phần gồm “Thắp” và “Ẩn dụ mưa”. Tôi không rõ lắm sự phân chia này theo ý nhà thơ như thế nào nhưng với tôi có  lẽ  “Thắp” là sự suy gẫm về con người và cuộc đời còn “Ẩn dụ mưa” anh dành cho quê hương và mẹ.

         
Nhà anh nhà tôi cách nhau bởi con sông Vu Gia. Nói là cách nhau vậy nhưng đứng bên này ngó thấy người bên kia sông giặt áo. Bên này sông xanh xanh lũy tre còn bên kia sông mênh mông bãi ngô thấp thoáng những mái nhà cùng con đường hun hút về phía làng. Và có lẽ tôi và anh mỗi khi nhớ về quê cũng chẳng thể quên tiếng thao thiết gọi đò. Dòng sông ấy đi vào thơ của anh da diết vô cùng: “Vu Gia như lòng của mẹ quê/một đời cát mấy mùa dưa chín đỏ/như lúa lâu năm lúa thành trùm mễ/ ta ốm đau có mẹ ở bên mình” (Vu Gia gõ mạn thuyền ta hát). Trong “Lục bát mùa gieo” anh lại viết về mẹ: “kể gì nắng gắt mưa mau/ mẹ cho con cả ruột đau chín chiều”. Đến “Bùn non” thì anh đã làm xốn xang người đọc bởi những đoạn thơ văn xuôi: “Bùn non. Gió rít mưa xối. Nước mênh mông đồng bãi. Phấp phỏng tiếng trống làng. Nước sàn sạt cuốn đi nhiều thứ. Nước đọng lại bùn non. Mẹ bốc lên lòng bàn tay mình những giọt bùn tươi rói. Ánh cười của mẹ gợi cho anh vị của đất hương của mùa. Cái nhìn của mẹ gợi cho anh một cách nghĩ một cách nhìn một cách sống”.

 
          Trong “Thắp” thơ Bùi Xuân có giọng điệu khác sâu lắng và trải nghiệm. Cái sự trải nghiệm mà nói như anh là sau một “thời gian xô những kiếp người trôi dạt”. Xưa nay ta vẫn thường nghe ví von “đại dương là nước mắt” còn với Bùi Xuân thế thái nhân tình gom lại cho anh sự hình dung độc đáo và mới mẻ “Trái đất mang hình giọt nước mắt”. Tôi thích nhất bài thơ này. Anh viết: “Trái đất mang hình giọt nước mắt/ em khóc làm chi thêm nặng thiên hà/xin hãy vì tôi làm trái chua quả ngọt/dù trái cây cũng mang hình giọt nước mắt đang rơi”. Xưa nay cũng chưa nghe ai hình dung trái cây “cũng mang hình giọt nước mắt”.  Nhà thơ muốn nhắn nhủ rằng mùa vàng quả ngọt là cô cạn mồ hôi nước mắt mà thành? Phải chăng sự hình dung này của anh cũng là sự thức tỉnh?

         
Trái đất này hư vô lắm em ơi/ mỗi con người là một khoảng trống/ em đừng tưởng phố phường kia đông đúc/ hoang vu này lại gặp hoang vu”. Mỗi người dù không phải ai cũng có thể diễn tả tâm trạng của mình như nhà thơ Bùi Xuân nhưng cũng đã hơn một lần ta từng đối diện cảm giác “hư vô” và “hoang vu” ấy  trong đời. Hết lớp người này đến lớp người khác đi qua cuộc đời này ai cũng từng khổ đau hạnh phúc và cả những trái ngang. Trong cuộc đời không phải với bất cứ ai bất cứ lúc nào cũng có thể sẻ chia và nhận được sự đồng cảm tuyệt đối nên đôi khi trong ta bàng bạc cảm giác cô đơn không có gì là lạ. Nhưng với Bùi Xuân sự cô đơn thật ý nghĩa vô cùng: “Đường tôi đi dù có xa mù trầm luân sa mạc/dù niềm vui thoáng qua nỗi buồn gieo mãi/em hãy nhớ nước mắt chối từ cái ác/trái đất khổ đau có gương mặt mẹ hiền.”. Những câu thơ này quả là tuyệt vời. Nhà thơ ca tụng nỗi buồn thánh thiện. Nơi ấy con người đang đối diện khoảng trống nhưng không tuyệt vọng đối diện với nỗi cô đơn nhưng không vô cảm. Ai rỏ nước mắt xuống cuộc đời này người ấy không bao giờ dửng dưng trước nỗi đau của đồng loại không bao giờ đồng hành với cái ác dù cái ác có thể tàng hình. Và trái đất này dù đang đối diện với bao nhiêu khổ đau vẫn mãi mãi mang gương mặt hiền từ của người mẹ.  Lời thơ chứa đựng niềm yêu cuộc sống được thắp lên mãnh liệt từ sự trải nghiệm qua bao nước mắt nụ cười cuối cùng đọng lại vĩnh hằng sự hiền dịu bao dung vô bờ qua bóng dáng người mẹ!

 
          *. GỞI NHÀ THƠ BÙI XUÂN

         
Mấy dòng nhân đọc “Ẩn dụ mưa” chẳng biết nhà thơ Bùi Xuân sẽ “cảm nhận” như thế nào đối với “cảm nhận” của người viết. Nhưng điều đó cũng không hề gì. Bởi như lời của nhà văn Anh Doris Lessing – người vừa đoạt giải Noben văn học 2007 khi một tác phẩm văn học ra đời thì sự cảm nhận thuộc về người đọc nhà thơ nhà văn không có quyền và cũng không thể bắt buộc người đọc cảm nhận tác phẩm theo đúng ý của mình. Văn học sở dĩ hấp dẫn con người bởi sự cảm nhận riêng đôi khi có thể chủ quan. Nhưng biết làm thế nào được. Có phải thế không nhà thơ Bùi Xuân?

NGUYỄN ĐỨC NAM

(*) Tên một bài thơ trong  tập “Ẩn dụ mưa” – NXB Hội Nhà văn

 
    

More...

Chuyện giữa tôi và hai cụ già

By NGUYỄN ĐỨC NAM


*. Nguyễn Đức Nam

More...

Hình như là sân ga

By NGUYỄN ĐỨC NAM

 

HÌNH NHƯ LÀ SÂN GA

*. Tuỳ bút của Hạnh Nhi

More...

Vì sao lại chia tay

By NGUYỄN ĐỨC NAM


VÌ SAO LẠI CHIA TAY?

(Nhân đọc Lời từ biệt Vnweblog BạnHữu)

*. Nguyễn Đức Nam

More...

Phúc lợi cho dân

By NGUYỄN ĐỨC NAM

 

PHÚC LỢI CHO DÂN

*. Nguyễn Đức Nam

 

More...

Nhớ kỳ Đại hội Cháu ngoan Bác Hồ toàn quốc lần thứ I (1981)

By NGUYỄN ĐỨC NAM


NHỚ KỲ ĐẠI HỘI CHÁU NGOAN BÁC HỒ 
TOÀN QUỐC LẦN THỨ NHẤT (21-8-1981)


          
... Nhớ nhất là bài hát của chú Phạm Tuyên viết dành tặng riêng cho Đại hội CNBH tòan quốc lần thứ I: “Gặp nhau giữa trời thu Hà Nội khăn quàng đỏ rực trong nắng vàng tươi cùng bên nhau giữa tình thương đồng đội những cháu Bác Hồ về từ khắp nơi nơi...”. Giờ đây mỗi khi nghe giai điệu bài hát lòng tôi bao giờ cũng trào dâng niềm hân hoan khó tả. Kỷ niệm những ngày ấy thật tuyệt diệu luôn lắng sâu trong trái tim mình!

More...